• Loading...
Chào mừng bạn đến với trang Thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Yên Bái!.
 
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ẤY VÀO XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ YÊN BÁI TRONG SẠCH VỮNG MẠNH
Ngày xuất bản: 12/10/2021 10:46:00 SA
Lượt đọc: 815

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vấn đề xây dựng dân chủ trong Đảng là một trong những di sản tư tưởng bao trùm và xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đồng thời, đây cũng là tư tưởng có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước hiện nay.

Trong thời gian qua, nhờ vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy dân chủ trong Đảng, Đảng bộ Trường Chính trị tỉnh Yên Bái trong quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, coi đó là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng trong Nhà trường. Chủ động nắm bắt tình hình, tư tưởng cán bộ, đảng viên để hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và xử lý những vấn đề nảy sinh, giải đáp những bức xúc về nhận thức trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và quần chúng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị của Nhà trường.

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy dân chủ trong Đảng

Dân chủ là một khái niệm thuộc lĩnh vực chính trị. Dân chủ là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc nhân dân là chủ thể duy nhất của quyền lực. Theo lý luận Mác - Lênin, dân chủ là một phạm trù lịch sử gắn liền với chế độ chính trị và nó ra đời, tồn tại cùng với sự ra đời của nhà nước. Về bản chất, nhà nước mang tính giai cấp cho nên dân chủ cũng mang tính giai cấp.

Hiện nay, có một số quan điểm nhìn nhận khái niệm “dân chủ” theo ý nghĩa rộng hơn. Dân chủ được xem xét với tư cách là một khái niệm chỉ phương thức quan hệ giữa người với người trên tất cả các lĩnh vực xã hội, giữa các thiết chế xã hội, giữa các con người trong xã hội. Dân chủ là một hình thức tổ chức quan hệ xã hội thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực. Theo đó, dân chủ bao quát tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực chính trị. Trong xã hội có giai cấp, dân chủ trong lĩnh vực chính trị có tính chi phối hệ thống chuẩn mực dân chủ trong các lĩnh vực khác.

Quán triệt nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin xem cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; kế thừa và phát triển triết lý “thân dân”, “lấy dân làm gốc” trong văn hóa phương Đông và truyền thống dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân - dân là gốc của nước.

Dân là chủ - tức là Nhân dân là chủ nhân thực sự của đất nước, chủ thể của xã hội “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Quan niệm này, về thực chất, nói lên địa vị và vai trò của nhân dân trong xã hội “Ở nước ta chính quyền là của Nhân dân, do nhân dân làm chủ… Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”. Chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ ủy quyền cho Nhà nước, Nhà nước là cơ quan quyền lực của Nhân dân, thực thi sự ủy quyền của Nhân dân. Quan niệm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt lên trên tất cả các quan niệm của các xã hội Việt Nam trước đó, nâng con người từ vị trí thần dân, thứ dân lên địa vị công dân, hơn nữa là địa vị chủ Nhân của đất nước, của xã hội.

Dân làm chủ - vừa thể hiện quyền của chủ thể xã hội, vừa thể hiện năng lực, bổn phận, trách nhiệm của chủ thể ấy. Trong nhà nước của dân, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ và có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, là người chủ thì Nhân dân cũng phải thể hiện năng lực, trách nhiệm làm chủ của mình trong việc tham gia xây dựng và quản lý nhà nước. Quan niệm này thể hiện tính chủ động của chủ thể dân chủ - Nhân dân. Như vậy, khái niệm “dân chủ” trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là vấn đề quyền lực, lợi ích của nhân dân gắn với nhà nước và pháp luật, mà còn là giá trị nhân cách và phẩm giá con người. Từ đó, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là động lực của sự tiến bộ và phát triển xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng việc xây dựng Đảng trở thành tổ chức vững mạnh, xứng đáng là tổ chức duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Phát huy dân chủ trong Đảng được xem là một trong những nguyên tắc cốt lõi của công tác xây dựng Đảng. Trong tư tưởng của Người, việc phát huy dân chủ trong Đảng được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, là vấn đề mang tính nguyên tắc, quyết định đến sức mạnh của Đảng.

Để xây dựng Đảng ta thành một đảng chân chính, cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải được xây dựng và tổ chức theo những nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, trong đó nguyên tắc quan trọng hàng đầu là tập trung dân chủ, mà Người thường sử dụng cách viết là “dân chủ tập trung”. Đây là nguyên tắc cơ bản, quyết định đến sức mạnh của tổ chức Đảng. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, mục đích là để xây dựng Đảng thành một tổ chức chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người, vừa phát huy sức mạnh của tất cả những ai đã tự nguyện gắn bó với nhau trong một tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ, thực hành lãnh đạo tập trung. Khi nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm, sẽ làm cho Đảng suy yếu, nội bộ Đảng mất đoàn kết, đường lối, chủ trương của Đảng lệch lạc, sai lầm, uy tín của Đảng bị giảm sút, Đảng sẽ dần mất quyền lãnh đạo đối với quần chúng.

Thứ hai, là cơ sở để đảm bảo quyền lợi của đảng viên.

Với tư cách là đội tiền phong trong đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đảng viên phải thực hiện tốt nghĩa vụ: cố gắng học tập nâng cao trình độ; giữ gìn kỷ luật của Đảng; ra sức phụng sự Nhân dân, liên hệ mật thiết Nhân dân; gương mẫu trong mọi công việc. Bên cạnh đó, đảng viên cũng có các quyền, mà cơ bản nhất là quyền dân chủ. Đảng viên có quyền tự do và thiết thực thảo luận về chủ trương, chính sách của Đảng, trên các báo chí và trong các cuộc hội nghị của Đảng: “Dù ý kiến ấy không đồng ý với ý kiến của đại đa số, không ai được ngăn cấm. Đảng viên có quyền tuyển cử và ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Đảng viên có quyền đưa ra những đề nghị, những thanh minh, những lời kêu nài trước các cơ quan của Đảng, từ chi bộ đến Trung ương, không ai được ngăn trở. Trong các cuộc hội nghị của Đảng có quyền phê bình đảng viên và cán bộ, phê bình công tác của các cơ quan Đảng…”. Như vậy, Người khẳng định rằng phát huy dân chủ trong Đảng cũng là điều cốt lõi trong việc thực hiện quyền lợi chính đáng của đảng viên.

Thứ ba, là cơ sở để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, là hạt nhân để thực hiện dân chủ trong xã hội và đoàn kết toàn dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện tốt dân chủ trong Đảng, phát huy được nhiều ý kiến và kinh nghiệm tốt của đảng viên, Đảng sẽ xây dựng được đường lối, chính sách, nghị quyết đúng đắn. Sau khi có đường lối, nghị quyết, mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải chấp hành và thực hiện. Đó cũng là cơ sở để củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người chỉ rõ: “Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Nghĩa là, Đảng cần lắng nghe, tập hợp mọi ý kiến khác nhau của đảng viên, của quần chúng, rồi phân tích, nghiên cứu, sắp đặt thành những ý kiến có hệ thống, để tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, làm cho quần chúng nắm vững và thực hành ý kiến đó. Công việc càng khó khăn, Đảng càng phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước.

Thứ tư, là biện pháp hữu hiệu để phòng và chống những biểu hiện tiêu cực trong tổ chức đảng.

Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ những biểu hiện tiêu cực xuất hiện trong tổ chức đảng: chủ nghĩa cá nhân, bè phái, quan liêu, địa phương chủ nghĩa, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, vô kỷ luật hoặc kỷ luật không nghiêm, ích kỷ, hủ hóa, cậy quyền, cậy thế, tham lam, lười biếng, bảo thủ,… Một trong những nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện tiêu cực trên là: “Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt kỷ luật và chính sách của Đảng và Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới… xa tránh những người tính trực nói thẳng”. Để khắc phục những biểu hiện tiêu cực đó, Người cho rằng Đảng cần thật sự phát huy dân chủ để cán bộ, đảng viên được bày tỏ ý kiến về các hoạt động của Đảng; thật thà tự phê bình và phê bình; tăng cường và thực hiện nghiêm minh kỷ luật Đảng.

2. Các nguyên tắc đảm bảo phát huy dân chủ trong Đảng

Để thực sự phát huy dân chủ trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.

Tập trung là thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Dân chủ trong Đảng tức là mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Bởi vậy, quyền lực của các cơ quan lãnh đạo đó cũng là do đảng viên giao phó cho, chứ không tự ai tranh giành được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một nguyên tắc. Tập trung không phải là cá nhân chuyên chính, độc đoán, chuyên quyền, mà tập trung xây dựng trên nền tảng dân chủ. Người lãnh đạo đại diện cho quần chúng đảng viên, cần phải gần gũi và học hỏi, lắng nghe ý kiến của đảng viên chứ không được lạm quyền. Mặt khác, dân chủ để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung chứ không phải dân chủ theo kiểu tập trung phân tán, vô tổ chức. Đảng viên có quyền nêu ý kiến, nhưng không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và kỷ luật của Đảng. Do vậy, Người yêu cầu: “Đảng viên phải kiên quyết chống nói lung tung, tự do hành động; dân chủ quá trớn”; toàn thể đảng viên phải theo đúng đường lối, nghị quyết của Đảng, phải theo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương.

Hai là, dân chủ phải đi đôi với việc thực hiện kỷ luật đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ luật là cơ sở chắc chắn để đảm bảo sự lãnh đạo tập trung làm cho Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Kỷ luật đặt ra cũng là để đảm bảo quyền dân chủ và phát huy dân chủ trong tổ chức đảng. Việc phát huy dân chủ trong Đảng lại phải luôn gắn liền với việc thực hiện kỷ luật Đảng. Đảng viên làm việc gì cũng phải có tính tổ chức, tính kỷ luật, phải bàn với tổ chức, không được đặt mình ngoài tổ chức; phê bình cũng phải trong tổ chức, có kỷ luật. Đảng viên ở địa vị càng cao thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương thực hiện dân chủ trong Đảng.

Ba là, thật thà tự phê bình và phê bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về nguyên nhân của việc cán bộ và đảng viên ít sáng kiến, ít hăng hái, “trước hết là vì: cách lãnh đạo của ta không được dân chủ”. Biểu hiện là: đối với cơ quan lãnh đạo, người lãnh đạo, các đảng viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình. Từ đó tạo ra sự cách biệt giữa cấp trên và cấp dưới, trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp, dưới thì có vấn đề không dám nói ra vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù dập. Từ đó, Người đề xuất cách sửa đổi lối làm việc: “Cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới… Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”.

Tự phê bình và phê bình là một phương cách hữu hiệu để phát huy dân chủ trong Đảng, không tự phê bình và phê bình là không tiến bộ, không dân chủ. Trong công tác tự phê bình và phê bình cũng phải có dân chủ. Đó là quyền lợi của mỗi đảng viên cần phải được tôn trọng. Bởi lẽ, quyền phê bình có thể nâng cao tính hăng hái và tinh thần phụ trách của các đảng viên, tăng cường sự đấu tranh của đảng viên với những biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng. Quyền phê bình là vũ khí để chống quan liêu, mệnh lệnh, giúp cải thiện quan hệ giữa cán bộ và đảng viên, cải thiện các công tác của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ”. Như vậy, tự phê bình và phê bình không chỉ là vũ khí để rèn luyện cán bộ, đảng viên, mà còn là biện pháp để thực hiện tốt dân chủ trong tổ chức đảng.

Bốn là, nâng cao ý thức, trách nhiệm của đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ vai trò tiên phong của đảng viên trong mọi công tác. Mỗi đảng viên cần nêu cao ý thức, trách nhiệm trong mọi công tác như: luôn cố gắng học tập, để không ngừng nâng cao bản lĩnh, trình độ giác ngộ, năng lực công tác; giữ gìn kỷ luật của Đảng để tăng cường sự đoàn kết, nhất trí, tăng cường sức mạnh của Đảng; thật thà chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện trái với nghị quyết của Đảng; tuyên truyền, giải thích chủ trương, chính sách của Đảng với quần chúng, vận động quần chúng thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng; gần gũi với quần chúng, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, báo cáo cho tổ chức đảng để đề xuất những giải pháp đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân; thường xuyên thật thà tự phê bình và phê bình để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải lắng nghe ý kiến phê bình từ quần chúng để luôn tiến bộ và phát triển.

3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ để xây dựng Đảng Bộ trường Chính trị trong sạch, vững mạnh

Trong thời gian qua, cấp ủy, lãnh đạo Trường Chính trị tỉnh Yên Bái đã tiếp tục quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng; chỉ thị của Tỉnh ủy; nghị định của Chính phủ về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (QCDC), gắn với “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Qua đó, nhận thức về QCDC của cán bộ, công chức, viên chức, giáo viên đã được nâng lên.

Ban Giám hiệu nhà trường đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện  QCDC ở cơ sở, như: Quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC của nhà trường; ban hành QCDC trong hoạt động của nhà trường; chỉ đạo tổ chức hội nghị cán bộ, công chức đầu năm đạt kết quả cao, đúng thời gian quy định; kiện toàn ban thanh tra nhân dân; xây dựng và bổ sung hệ thống quy chế nội bộ trong cơ quan kịp thời. Thông qua hội nghị cán bộ, công chức đầu năm, các giảng viên, viên chức, người lao động trong nhà trường được tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của cơ quan, đơn vị như: Bàn các biện pháp thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường theo kế hoạch tỉnh giao, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những vấn đề chưa phù hợp trong Quy chế hoạt động, Quy chế chi tiêu nội bộ cơ quan; thông qua các báo cáo về thu, chi tài chính, việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức việc mua sắm các trang thiết bị phục vụ công tác, thực hiện giải quyết đời sống giảng viên, viên chức, người lao động. 

Ngoài ra, việc thực hiện QCDC đã được gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, các phong trào thi đua, từ đó góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm và thái độ làm việc của giảng viên, viên chức, người lao động. Hàng năm, nhà trường đã phát động phong trào thi đua và ký kết giao ước thi đua giữa người đứng đầu với các khoa khoa, phòng, các tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên về chấp hành nội quy, quy chế làm việc của cơ quan; thực hành tiết kiệm chống lãng phí, đấu tranh phòng chống tiêu cực, thực hiện văn hóa giao tiếp văn minh, thân thiện... Các nội dung “Cán bộ, công chức, viên chức được biết, được tham gia ý kiến, được giám sát, kiểm tra”  theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ được triển khai trong cơ quan có hiệu quả thiết thực. Giảng viên, viên chức, người lao động luôn thể hiện trách nhiệm của mình trong việc tham gia xây dựng và thực hiện nội quy, quy chế hoạt động của nhà trường.

Người đứng đầu cơ quan và các đoàn thể (Công đoàn, Đoàn thanh niên) đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong việc thực hiện QCDC cơ sở, phát động phong trào thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Thông qua thực hiện dân chủ trong nhà trường, nhận thức của giảng viên, viên chức, lao động tiếp tục được nâng lên và có chuyển biến tích cực, đề cao trách nhiệm, thực hiện nội quy, quy chế cơ quan, nội bộ nhà trường đoàn kết, không để xảy ra tiêu cực, không có đơn thư khiếu nại, tố cáo.

Đối với nội dung thực hiện dân chủ trong quan hệ giải quyết công việc với công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan: Nhà trường đã phân công trách nhiệm trong Ban Giám hiệu, các khoa, phòng theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao bảo đảm tính dân chủ và đúng nguyên tắc, luôn có sự bàn bạc thống nhất. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, giải quyết công việc theo đúng thẩm quyền đã tạo thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức, cơ quan đến liên hệ công việc. Cán bộ, giáo viên của Trường đã thực hiện nghiêm túc quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, có mối quan hệ tốt, đúng mực với học viên, thường xuyên giữ mối quan hệ công tác giữa các cơ quan trong tỉnh cũng như các trường chính trị trong cụm thi đua, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực III và hệ thống các trường chính trị cả nước. Thực hiện gửi báo cáo định kỳ hàng tháng, quý và xây dựng lịch công tác tuần đầy đủ. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các công việc liên quan tới phản ánh, đề xuất của các khoa, phòng, đoàn thể và giảng viên, nhân viên, học viên nhà trường.  Thực hiện dân chủ rộng rãi, thường xuyên trong cơ quan, đặc biệt là quan tâm tổ chức tốt hội nghị dân chủ cơ quan để bàn giải pháp triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Trong hội nghị dân chủ, các cán bộ, giảng viên, nhân viên được thẳng thắn trao đổi, thảo luận, phát biểu ý kiến về những nội dung quan trọng liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhà trường. Trên cơ sở những ý kiến đóng góp, nhà trường văn bản hoá, bổ sung vào quy chế quản lý, điều hành thống nhất trong toàn trường. Như vậy, dân chủ cơ quan ở Trường Chính trị tỉnh không chỉ là cấp dưới được nói, được biết, được bàn, mà những sáng kiến, đề nghị xác đáng của cấp dưới đã được Ban lãnh đạo ghi nhận và áp dụng trên thực tế.

Có thể khẳng định, việc Đảng ủy đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, Công đoàn và Đoàn Thanh niên tổ chức thực hiện tốt các quy định về QCDC đã góp phần xây dựng môi trường làm việc dân chủ, lành mạnh; nâng cao hiệu quả việc bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, công chức, viên chức. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã có cơ hội phát huy được tính tích cực, tự giác thực hiện và hoàn thành tốt công việc được giao, góp phần tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, công đoàn ngày càng vững mạnh.

                                                                                                                 Dương Thị Thúy Tài

                                                                                                                                                                Khoa Nhà nước và Pháp luật