• Loading...
Chào mừng bạn đến với trang Thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Yên Bái!.
 
MỘT VÀI Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH YÊN BÁI HIỆN NAY
Ngày xuất bản: 29/11/2019 7:41:00 SA
Lượt đọc: 3302

        Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên luôn là công việc quan trọng của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng, nhằm giác ngộ lý tưởng cách mạng, nâng cao nhận thức chính trị, thống nhất ý chí và hành động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ.

 Trường Chính trị Yên Bái đã xác định trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên thì công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các hoạt động của Nhà trường. Nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh Yên Bái có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, phong cách làm việc hiệu quả đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp, hiện đại hóa gắn với hội nhập quốc tế.

Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Nhà trường xác định việc thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập là nội dung quan trọng nhất. Nhận thức được tầm quan trọng đó, ngày 27 tháng 3 năm 2018, Nhà trường đã tổ chức cuộc Hội thảo cấp trường với  chủ đề “Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy đi vào chiều sâu của Trường Chính trị tỉnh Yên Bái”. Sau gần hai năm thực hiện kết luận hội thảo, tôi xin nhận xét, đánh giá một số điểm sau đây:

Thứ nhất, về công tác soạn giáo án

Nhà trường quy định cho tất cả giảng viên căn cứ vào mẫu giáo án của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh để soạn giảng, đây là việc làm đúng đắn,  đảm bảo được tính thống nhất, mang tính bắt buộc cho tất cả giảng viên. Mặt khác, giúp cho công tác quản lý, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo án của giảng viên được dễ ràng, thuận lợi, khách quan.

Thứ hai, việc xác định kiến thức trọng tâm bài giảng

            Do nội dung nhiều bài học trong giáo trình rất dài, phân bổ thời gian ít nên việc xác định phần kiến thức trọng tâm là rất cần thiết, giúp cho mỗi giảng viên tập trung và giành nhiều thời gian để giảng giải, phân tích sâu, làm rõ những nội dung trọng tâm, sát đối tượng, giúp người học nắm được bài ngay trên lớp, tránh tình trạng trình bày dàn trải, “Cháy giáo án”. Ngoài ra, việc xác định nội dung trọng tâm tạo sự thống nhất cho các giảng viên khi được phân công soạn, giảng các bài  cũng như khi ra đề kiểm tra, thi hết học phần, môn học. Qua thực tiễn kiểm nghiệm cho thấy việc làm này đã đem lại hiệu quả và chất lượng dạy và học được nâng lên.

     Thứ ba, những nội dung hướng dẫn học viên tự học, tự nghiên cứu

Do kết cấu chương trình nhiều bài quá dài so với thời gian như đã nêu ở trên. Do vậy, trong quá trình giảng bài trên lớp giảng viên không thể giảng giải hết các nội dung mà giáo trình biên soạn, mà chỉ tập trung vào những nội dung xác định là trọng tâm còn những nội dung khác sẽ hướng dẫn để học viên tự đọc, tự nghiên cứu và kết hợp giới thiệu tài liệu liên quan.

Việc hướng dẫn học viên tự học, tự nghiên cứu cũng là một hoạt động học tập có hiệu quả, giúp học viên phát huy khả năng tư duy của mình, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.

Tuy nhiên, với đối tượng lớp tại chức (Hệ B), nhiều học viên vin cớ vừa làm, vừa học nên ngoài giờ trên lớp phải tranh thủ thời gian làm công việc chuyên môn và công việc gia đình nên không có thời gian tự đọc, tự nghiên cứu. Một số học viên chưa nêu cao ý thức tự giác học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ nhận thức. Do vậy, việc tự nghiên cứu của học viên còn nhiều hạn chế.

Bốn là, định hướng học viên gắn lý luận với thực tiễn

Thực hiện nội dung này, quá trình giảng dạy các giảng viên đã cố gắng tuân thủ nguyên tắc: Lý luận liên hệ với thực tiễn. Tuy nhiên, việc định hướng vận dụng, liên hệ giữa lý luận vào thực tiễn của từng địa phương và công tác chuyên môn của mỗi học viên còn hạn chế nhất định, cụ thể:

Đối với giảng viên:

Do hạn chế về thời gian trên lớp nên những nội dung hướng dẫn liên hệ, vận dụng giảng viên cũng chỉ có thể hướng dẫn chung cho cả lớp, không thể cho từng đối tượng khác nhau. Một số giảng viên trẻ kinh nghiệm và vốn sống thực tiễn còn ít nên việc liên hệ cũng như gợi mở cho học viên cách liên hệ cũng còn hạn chế nhất định.

Mặt khác, ý thức tự học tập, tự nghiên cứu để nắm bắt, cập nhật, bổ sung kiến thức thực tiễn cho bài giảng, góp phần định hướng giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương, cơ sở của một số giảng viên chưa cao. Về vấn đề này Nhà trường cần tiếp tục quán triệt trong thời gian tiếp theo.

Về phía học viên: Có không ít học viên xác định đi học là để trả nợ bằng hoặc lấy tấm bằng cho đủ điều kiện quy hoạch, bổ nhiệm, nên chưa nêu cao ý thức tự giác học tập để nâng cao trình độ về lý luận, chính trị, để hiểu rõ lý luận và từ lý luận đó liên hệ, vận dụng vào thực tiễn ở địa phương và công tác chuyên môn của mình. Do vậy, việc liên hệ (vận dụng) giữa lý luận với thực tiễn cũng còn nhiều hạn chế, điều này thấy được qua  bài thi hết môn học, phần học nhiều bài liên hệ còn chung chung, sơ sài, thậm trí có bài giống nhau...

Thứ năm, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy và công cụ hỗ trợ

          Trong thời gian qua các giảng viên cũng đã có nhiều cố gắng sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực trong quá trình truyền đạt kiến thức bài giảng. Xong, cơ bản vẫn sử dụng các phương pháp giảng dạy như: thuyết trình, quy nạp – diễn dịch; hỏi – đáp; làm việc nhóm là cơ bản. Phần nào cho thấy các phương pháp này vẫn là phù hợp với nội dung, chương trình học tập với số đông đối tượng học viên cũng như số lượng học viên trong lớp. Tuy nhiên, để việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực vào bài giảng có chất lượng cần phải có nhiều thời gian trên lớp (hiện nay nội dung một bài giảng có quá nhiều vấn đề); Giảng viên phải giành nhiều thời gian đầu tư cho một bài giảng. Hơn nữa, hiện nay số lượng học viên các lớp đông, phòng học trật hẹp, phương tiện hỗ trợ giảng dạy không đảm bảo: ánh sáng trong phòng học không hợp lý, máy tính, máy chiếu không đồng bộ, chất lượng kém, điện lưới không ổn định. Ngoài ra, tính tích cực, chủ động cùng tham gia vào bài giảng của học viên chưa cao, nên phần nào cũng gặp khó khăn và ảnh hưởng đến chất lượng trong việc sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực.

 Sáu là, việc ra đề thi, coi thi và chấm thi

Trong thời gian qua việc ra đề thi về cơ bản đã phù hợp với chương trình và đối tượng người học. Xong, đề thi ra theo hướng mở cho sử dụng tài liệu thì khi học viên làm bài còn có sự trao đổi gây mất trật tự, sử dụng chung tài liệu giống nhau, kể cả phần liên hệ. Gần đây có thực hiện đề thi viết (đề đóng) xong việc coi thi chưa thật chặt chẽ, nghiêm túc. Hiện tượng học viên quay cóp, trao đổi tài liệu, bài thi cho nhau trong khi làm bài vẫn sảy ra.

 Việc chấm thi chưa thực sự đánh giá được đúng thực chất, về chất lượng học tập của học viên.

Trên đây là đánh giá của cá nhân trên một số mặt về những ưu điểm, những  hạn chế sau gần hai năm thực hiện Kết luận Hội thảo khoa học của Nhà trường về “Đổi mới nội dung, phương pháp giảng đi vào chiều sâu”.

 Trong thời gian tới để tiếp tục thực hiện tốt việc “Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy đi vào chiều sâu”. Tôi xin nêu ra một số góp ý sau:

Thứ nhất, về phía giảng viên: không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Vì đây là yếu tố quyết định đầu tiên đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường. Cần rà soát, đánh giá lại năng lực giảng dạy của từng giảng viên, phân công bài giảng một cách hợp lý cho cả giảng viên chính thức và giảng kiêm nhiệm, để phát huy khả năng, năng lực của từng người. Người giảng viên phải thực sự tâm huyết, yêu nghề. Luôn nêu cao ý thức trách nhiệm với công việc được giao, nhất là công tác giảng dạy. Thường xuyên trau dồi kiến thức; rèn luyện về phong cách, thái độ, tư tưởng đạo đức, tâm lý… tạo sự vững vàng về kiến thức, tự tin về phong cách khi đứng trên bục giảng.

Thực hiện nghiêm túc việc lấy phiếu nhận xét, đánh giá của học viên đối với giảng viên sau khi kết thúc môn học, phần học. Đây là một kênh thông tin quan trọng để đánh giá về tinh thần, thái độ, trách nhiệm và chất lượng giảng dạy của giảng viên và góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung.

Thứ hai, về nội dung, chương trình đào tạo: Trên cơ sở chương trình khung của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh quy định, xong cần chủ động tiến hành điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo cho phù hợp với đối tượng từng lớp, trình độ người học, sắp xếp lịch học các môn học, phần học đảm bảo hệ thống, khoa học. Phát huy hiệu quả của việc học lý thuyết gắn với thảo luận, làm việc nhóm, báo cáo chuyên đề thực tế. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm, chú trọng hướng dẫn học viên giải quyết các bài tập tình huống, gợi mở trao đổi, thảo luận, liên hệ với thực tiễn… nhằm đảm bảo mục tiêu đào tạo cả về kiến thức và kỹ năng, gắn lý luận với thực tiễn.

Thứ ba, về khâu tuyển sinh:  Nhà trường tăng cường hơn nữa việc phối hợp với Ban tổ chức, Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thị, thành phố, các sở, ban ngành thực hiện khâu tuyển sinh theo đúng quy chế, có quy trình chặt chẽ, đảm bảo đúng đối tượng, đúng yêu cầu của điều kiện đầu vào. Cố gắng phân xếp loại đối tượng học viên vào các lớp cho tương đối đồng đều về trình độ chuyên môn cũng như trình độ nhận thức. Bố trí số lượng học viên trong một lớp theo đúng quy định, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của lớp học, tránh tình trạng phòng học chật hẹp số lượng học viên quá đông.

Thứ tư, về quản lý học viên: Đây là một trong những khâu rất quan trọng trong hoạt động giáo dục - đào tạo. Mục đích là nhằm phát huy tính tự giác học tập của học viên, để học viên thấy học tập lý luận - chính trị vừa là nhu cầu và là yêu cầu bắt buộc của mỗi học viên. Từ đó mới có thể biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Quản lý đào tạo phải thực hiện nghiêm túc theo Quy chế đã được xây dựng và ban hành. Quản lý học viên được thực hiện ngay từ khâu tuyển sinh, tiếp đó là toàn bộ các khâu của quá trình học tập. Yêu cầu học viên nêu cao ý thức tự giác trong học tập, từ khâu tự học, tự nghiên cứu, soạn đề cương phục vụ thảo luận trên lớp. Cùng với đó, việc tổ chức thi và chấm thi hết phần, hết môn cũng như thi tốt nghiệp phải chặt chẽ, nghiêm túc trên tinh thần đảm bảo đúng Quy chế, công tâm, khách quan nhằm nâng cao chất lượng học tập của học viên. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để xem xét, đánh giá thực chất quá trình học tập, rèn luyện của học viên.

Thực hiện nghiêm túc việc thường xuyên liên hệ, phối hợp với cơ quan chủ quản có học viên đi học để quản lý chặt chẽ quá trình học tập, rèn luyện của học viên, kịp thời phản ánh về tinh thần, thái độ, kết quả học tập để cơ quan, đơn vị nắm được và cùng với Nhà trường quản lý học viên một cách tốt nhất. Đây là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng và ý thức học tập của học viên.

Hiện nay Nhà trường đang trong giai đoạn “Chuyển giao thế hệ” nên có sự “Hẫng hụt” nhất định về đội ngũ giảng viên và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học của Nhà trường. Xong với phương châm: “Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy đi vào chiều sâu” nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học. Để thực hiện tốt phương châm này, ngoài những giải pháp đã nêu trên thì mỗi cán bộ, đảng viên, giảng viên Nhà trường luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, nêu cao ý thức trách nhiệm, tận tụy với công việc được giao; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực công tác tốt; học tập và vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Mimh về phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả và thực hiện tốt phương châm “Nói phải đi đôi với làm”, “lý luận liên hệ với thực tiễn”. Tôi tin rằng trong thời gian tới chất lượng dạy và học của Nhà trường sẽ ngày càng được nâng lên.

                                                                                             Bùi Văn Nghĩa

Trưởng khoa, Khoa  Lý luận cơ sở