• Loading...
Chào mừng bạn đến với trang Thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Yên Bái!.
 
BÀN VỀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA LUẬT HÀNH CHÍNH VỚI CÁC NGÀNH LUẬT KHÁC TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngày xuất bản: 19/09/2019 8:30:00 SA
Lượt đọc: 369

Thuật ngữ “hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administration” là quản lý, lãnh đạo. Nó có bốn nghĩa cụ thể: (1) Hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước; (2) các cơ quan chấp hành của quyền lực nhà nước, bộ máy Chính phủ; (3) những người có chức vụ, ban Giám đốc, ban lãnh đạo các cơ quan, xí nghiệp; (4) người điều hành, người chịu trách nhiệm chính tổ chức hoạt động một cơ quan, xí nghiệp… nào đó[1].

Với tư cách là 1 ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hành chính là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước. Đó là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh, phát triển trong lĩnh vực quản lý nhà nước, tức là những quan hệ phát sinh, phát triển trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước. Đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính là các quan hệ xã hội thuộc 03 nhóm:

- Nhóm quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Đây là nhóm quan hệ lớn nhất, cơ bản nhất và quan trọng nhất trong ngành Luật Hành chính.

- Nhóm quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy, chế độ làm việc của nội bộ cơ quan nhằm bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình

- Nhóm quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong những trường hợp cụ thể được Nhà nước quy định.[2]

Phương pháp điều chỉnh đặc trưng của Luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn phương được hình thành từ quan hệ “quyền lực – phục tùng” giữa 1 bên có quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc đối với bên kia trong quan hệ pháp luật hành chính là các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa vụ phục tùng các mệnh lệnh đó.

Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, đến nay hệ thống pháp luật Việt Nam có 12 ngành luật cơ bản, bao gồm: Luật Nhà nước, Luật Hành chính, Luật tài chính, Luật Đất đai, Luật Lao động, Luật Hôn Nhân và gia đình, Luật Kinh tế, Luật Hợp tác xã, Luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự. Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập đến Luật Hành chính trong mối tương quan với một số ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cụ thể như sau:

Một là: mối tương quan giữa Luật Hành chính với Luật Nhà nước

Luật Nhà nước (hay còn gọi là Luật Hiến pháp) là ngành luật chủ đạo trong hệ thống các ngành luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì các quan hệ xã hội mà Luật Nhà nước quy định là những chính sách cơ bản nhất, quan trọng nhất của nhà nước trong các lĩnh vực đối nội và đối ngoại, chế độ kinh tế, thể chế chính trị, văn hóa – xã hội, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thiết lập nên hệ thống bộ máy nhà nước và những nét cơ bản của địa vị pháp lý của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, chế độ bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước.

Trong mối quan hệ với Luật Hành chính, Luật Nhà nước có đối tượng điều chỉnh của rộng hơn. Chẳng hạn Luật Nhà nước quy định các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của mọi cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan quản lý; còn Luật Hành chính cụ thể hóa, chi tiết hóa và bổ sung các nguyên tắc đó trong các lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể. Luật Nhà nước quy định những nét cơ bản về vị trí, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan quản lý quan trọng nhất, còn Luật Hành chính chi tiết hóa thẩm quyền của chúng, đồng thời có thể đặt ra các cơ quan khác và xác định thẩm quyền của các cơ quan đó. Luật Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; còn Luật Hành chính cụ thể hóa, chi tiết hóa chúng, bổ sung những quyền và nghĩa vụ mới (không cơ bản), quy định cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân.

Hai là: mối tương quan giữa Luật Hành chính với Luật Dân sự

Luật dân sự là ngành luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản dưới hình thức hàng hoá tiền tệ và một số quan hệ nhân thân dựa trên nguyên tắc: tự định đoạt, bình đẳng quyền khởi tố dân sự và trách nhiệm vật chất của các bên tham gia quan hệ đó. Nội dung luật dân sự bao gồm các chế định quy định về: quyền sở hữu, hợp đồng dân sự, quyền thừa kế, quyền tác giả, quyết phát minh sáng chế.

Với Luật Dân sự, Luật Hành chính cũng có quan hệ rất chặt chẽ vì Luật hành chính nhiều khi cũng điều chỉnh quan hệ tài sản, tuy nhiên Luật Hành chính điều chỉnh quan hệ tài sản bằng phương pháp quyền lực – phục tùng (trong khi đó Luật Dân sự điều chỉnh quan hệ tài sản bằng phương pháp thỏa thuận đặc trưng bởi sự bình đẳng về ý chí giữa các bên).

Cụ thể là, đối với Luật hành chính, các cơ quan quản lý có thể trực tiếp điều chỉnh quan hệ tài sản bằng cách ra quyết định mang tính chất quyền lực nhà nước để phân phối tài sản cho các cơ quan quản lý cấp dưới, các tổ chức kinh tế, quyết định chuyển giao tài sản giữa các cơ quan, tổ chức với nhau; hoặc gián tiếp điều chỉnh thông qua các quyết định về kế hoạch, tiêu chuẩn chất lượng, về cơ chế định giá… Trong nhiều trường hợp, các cơ quan quản lý cũng tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật dân sự với tư cách một pháp nhân – chủ thể của pháp luật dân sự, Chẳng hạn như cơ quan quản lý có thể ký hợp đồng thuê hoặc cho thuê nhà cửa, địa điểm, mua thiết bị máy móc và văn phòng phẩm…

Ba là: mối tương quan giữa Luật Hành chính với Luật Đất đai

Luật Đất đai là ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước với người sử dụng đất đai, đó là tổng hợp tất cả các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để bảo vệ đất đai-một tài sản quý của quốc gia và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng và bảo vệ đất đai.

Trong quan hệ Luật Đất đai, nhà nước có tư cách vừa là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai, vừa là người thực hiện quyền lực nhà nước. Bởi quan hệ đất đai chỉ xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt khi có quyết định của cơ quan nhà nước giao đất cho người sử dụng đất. Các cơ quan quản lý nhà nước giám sát việc sử dụng đất của người sử dụng đất đai nhằm đảm bảo sử dụng đúng mục đích, đảm bảo hiệu quả kinh tế nhưng vẫn bảo vệ môi trường và giữ gìn độ phì nhiêu của đất đai nhưng không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất. Trong những trường hợp do luật định, nhà nước có quyền đơn phương thu hồi đất, xử phạt hành chính đối với người sử dụng đất có hành vi vi phạm quy định của Luật Đất đai. Người sử dụng đất trong quan hệ Luật Đất đai là người chấp hành quyền lực nhà nước. Như vậy, Luật hành chính là phương tiện thực hiện Luật Đất đai. Có thể khẳng định giữa Luật Hành chính và Luật đất đai có mối liên hệ với nhau, đó là cùng điều chỉnh những quan hệ liên quan đến đất đai, những quan hệ đó xuất hiện nhằm mục đích bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, đúng mục tiêu, đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và đem lại hiệu quả kinh tế cao.

 Bốn là: mối tương quan giữa Luật Hành chính với Luật Hình sự

Luật Hình sự là một ngành luật quy định tội phạm, xác định hình phạt với các tội phạm nhằm đấu tranh chống tội phạm, loại trừ mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội. Như vậy, quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ là quan hệ hình thành giữa Nhà nước và người phạm tội khi người đó thực hiện hành vi được Nhà nước quy định là tội phạm. Đây là ngành luật không điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, mà chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến tội phạm và hình phạt.

Luật Hình sự và Luật Hành chính cũng có điểm chung là cả hai ngành luật đều điều chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật và cách xử lý đối với những hành vi này, chỉ khác trong Luật hình sự, tội phạm là loại vi phạm pháp luật có mức độ và tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với Luật hành chính. Theo đó, Luật hình sự xác định hành vi nào là tội phạm, hình phạt nào được áp dụng đối với tội phạm ấy, điều kiện áp dụng các hình phạt đó. Còn Luật hành chính quy định các quy tắc có tính chất bắt buộc chung (quy tắc giao thông, vệ sinh, phòng cháy chữa cháy, lưu thông hàng hóa,...) mà nếu vi phạm các quy tắc này, trong một số trường hợp có thể bị xử lý hình sự theo quy định của Luật hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính. Do mức độ và tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn nên hình phạt đối với tội phạm do Luật hình sự quy định cũng nặng hơn những hình thức phạt và biện pháp cưỡng chế khác mà Luật hành chính quy định áp dụng đối với chủ thể thực hiện vi phạm hành chính. Trình tự xử lý và chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và tội phạm cũng khác nhau.

Năm là: mối tương quan giữa Luật Hành chính với Luật Lao động

Luật lao động là một ngành luật điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động.

Giữa Luật Hành chính và Luật Lao động có quan hệ chặt chẽ trong những trường hợp sau đây:

- Thẩm quyền của các cơ quan trực tiếp quản lý lao động như Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Sở Lao động, thương binh và xã hội do Luật hành chính quy định (trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát công tác bảo hộ lao động và quy tắc an toàn lao động) nhưng bản thân các quy tắc về bảo hộ và an toàn lao động là thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Lao động

- Thông thường nội dung các văn bản cá biệt của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động do Luật Lao động quy định, còn trình tự, thủ tục ban hành chúng thì do Luật Hành chính quy định.

- Luật Hành chính và Luật Lao động đều cùng điều chỉnh chế độ phục vụ, hoạt động công vụ nhà nước, vì cán bộ, công chức, viên chức là lực lượng lao động đặc biệt.

Luật hành chính đóng vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia vì hoạt động hành chính tác động toàn diện và trực tiếp tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Qua nghên cứu mối tương quan giữa Luật hành chính với các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có thể khẳng định rằng Luật hành chính không chỉ là phương tiện đưa quy phạm vật chất của Luật hành chính vào cuộc sống mà còn đưa cả quy phạm vật chất của nhiều ngành luật khác vào thực thi trong đời sống thực tế. Do đó, quan tâm đến việc củng cố và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh của Luật Hành chính là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống pháp luật nước ta trong giai đoạn hiện nay./.

Âu Phương Thảo

Khoa Nhà nước và pháp luật