• Loading...
Chào mừng bạn đến với trang Thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Yên Bái!.
 
QUYỀN TƯ PHÁP VÀ NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP, CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT KHI XÉT XỬ
Ngày xuất bản: 29/06/2021 9:41:00 SA
Lượt đọc: 1201

 

Trong khoa học pháp lý, theo nghĩa truyền thống, thuật ngữ “quyền tư pháp” thường được hiểu đơn giản là quyền xét xử. Khái niệm tư pháp dùng trong trường hợp này để chỉ các cơ quan tham gia vào hoạt động xét xử của nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật, giải quyết một vụ việc tranh chấp trên thực tế trên cơ sở xem xét các tình tiết thực tế của vụ việc, áp dụng pháp luật để xác định hậu quả pháp lý và đưa  ra phán quyết, quyết định về tính hợp hiến, hợp pháp của các hành vi khi có tranh chấp và mâu thuẫn giữa các chủ thể với nhau. Như vậy, nếu chúng ta tìm hiểu tư pháp theo nghĩa này thì hệ thống cơ quan thực hiện quyền xét xử chính là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đó chính là tòa án. Có thể nói trong học thuyết phân quyền ta có thể xem đây là học thuyết có giá trị về chính trị - kỹ thuật pháp lý to lớn trong tổ chức quyền lực nhà nước. Montesquieu đã viết: “Khi quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”. Nội dung cơ bản của thuyết phân quyền này chính là sự phân chia ba nhánh quyền lực. Sự hợp lý nhất của học thuyết phân quyền này chính là quan niệm quyền lực nhà nước không được tập trung vào một người hay một cơ quan mà được cấu thành, phân chia thành ba quyền cơ bản: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Ba quyền này được giao cho ba cơ quan khác nhau, có nhiệm vụ, quyền hạn và có sự độc lập với nhau. Giữa ba quyền này có sự kiểm soát, thậm chí có sự kiềm chế, đối trọng lẫn nhau. Tuy vậy, việc vận dụng học thuyết này ở các nước là đa dạng, tùy từng nước có những quy định cụ thể rất khác nhau. Như vậy ở đây “tư pháp” được dùng để chỉ nhánh quyền lực nhà nước thực hiện quyền xét xử và bảo vệ pháp luật.

Ở Việt Nam, theo từ điển Tiếng Việt thì “tư pháp” có nghĩa là “việc xét xử các hành vi phạm pháp và các vụ kiện tụng trong nhân dân”. Quyền tư pháp theo Từ điển Luật học thì có nghĩa là: “quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân, kinh tế, lao động, hành chính...Quyền tư pháp được giao cho tòa án nhân dân thực hiện”. Ở Việt Nam, kể từ khi có bản Hiến pháp năm 1946 đến nay thì cơ quan xét xử là Tòa án nhân dân các cấp, tòa án quân sự và có thể có thêm tòa án đặc biệt. Một số thiết chế như trọng tài thương mại, tổ chức hòa giải ở cơ sở tuy thực hiện chức năng gần giống với xét xử, nhưng không gọi là cơ quan xét xử. Hiện nay, căn cứ theo điều 102, Khoản 1 Hiến pháp năm 2013 thì “Tòa án nhân dân  là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Thực tiễn cho thấy, ở Việt Nam, ngoài hệ thống Tòa án nhân dân, còn có các cơ quan khác tuy không nằm trong hệ thống tư pháp nhưng vẫn được gọi là cơ quan tư pháp. Như trong nhánh hành pháp có Bộ Tư pháp thuộc Chính phủ, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, hay cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, cơ quan thi hành án. Từ những điểm đặc thù về thể chế chính trị ở Việt Nam cho thấy sự tham gia của các cơ quan điều tra và thực hiện quyền công tố trong thực thi quyền tư pháp là cần thiết, bởi một mình Tòa án không thể tiến hành toàn bộ các hoạt động từ tìm chứng cứ, xác minh, đánh giá chứng cứ đến xét xử.

Như vậy, có thể hiểu, quyền tư pháp theo nghĩa hẹp là chức năng xét xử của Tòa án, nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết đối với các hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quyền, lợi ích của công dân, tổ chức; áp dụng pháp luật; phán xét hành vi hợp pháp của các cơ quan, công chức nhà nước.

Quyền tư pháp theo nghĩa rộng được thực hiện thông qua hoạt động của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, và tòa án..Trong hệ thống những cơ quan này, tòa án với chức năng xét xử có vai trò trung tâm của quyền tư pháp và những cơ quan bảo vệ pháp luật khác là các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp. Bởi lẽ, hoạt động điều tra có thể được thực hiện bởi các cơ quan hành pháp hay thi hành án là giai đoạn sau của xét xử, có sứ mệnh thực thi phán quyết của tòa án nên xét về bản chất không phải là hoạt động tư pháp thuần túy mà mang tính chất hành chính - tư pháp.

Nói tóm lại, quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý được thực hiện để chống lại các hành vi vi phạm pháp luật.

Khi thực hiện quyền tư pháp thì hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước để tuyên một hành vi là có tội hay không có tội. Do đó, phán quyết của Tòa án nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, trật tự công cộng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích, danh dự, nhân phẩm của công dân. Vì vậy, khi tòa án thực hiện việc xét xử cần phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật để không xử oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm. Để đảm bảo được hoạt động xét xử của tòa án nghiêm minh, đúng người, đúng tội thì khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân nhân cần độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây chính là nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 103, Khoản 2 Hiến pháp năm 2013.

Ở đây độc lập là tự đưa ra các quyết định, phán quyết trên cơ sở những chứng cứ, quy định của pháp luật về vụ việc, vụ án mà không bị ảnh hưởng, chịu sự tác động hay phụ thuộc vào yếu tố nào khác.

Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội và xã hội. Trên phạm vi lãnh đạo của mình Đảng đề ra chủ trương, chính sách để lãnh đạo các cơ quan, tổ chức không được căn thiệp sâu vào chính hoạt động chuyên môn đặc thù của chính cơ quan đó. Đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước nói chung và Tòa án nói riêng thì sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện qua công tác cán bộ, bằng sự gương mẫu của đội ngũ Đảng viên. Đối với ngành Tòa án là chủ trương xét xử đúng người, đúng tội, đúng với quy định của pháp luật. Về lý thuyết trên thực tế thì nguyên tắc lãnh đạo này của Đảng không hề mâu thuẫn gì với độc lập khi xét xử. Nhưng nếu nhìn nhận trên góc độ thực tế thì vị trí cấp Ủy Đảng trong việc bổ nhiệm Thẩm phán, đặc biệt là theo nhiệm kỳ như hiện nay chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán nếu có sự tác động từ cấp Ủy đảng. Chính vì vậy, đây chính là một trong những yếu tố khách quan tác động đến tính độc lập của Thẩm phán khi xét xử nếu như bản thân thẩm phán chưa nhận thức đúng sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp.

Độc lập của thẩm phán và hội thẩm khi xét xử còn thể hiện trong việc đánh giá các chứng cứ. Khi xét xử Hội thẩm và thẩm phán là ngang quyền nhau trong xét xử. Việc đánh giá chứng cứ, kết luận được thực hiện một các độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử. Thẩm phán không được quyền chỉ đạo Hội thẩm trong việc quyết định các tội danh hay hình phạt. Đồng thời, hội thẩm cũng không được có thái độ ỉ lại vào Thẩm phán mà cần phải tích cực và có tinh thần trách nhiệm trong hoạt động chứng minh tội phạm. Trên thực tế hiện hay, theo nguyên tắc “xét xử sơ thẩm có hội thẩm tham gia”, hội thẩm đại diện cho cái nhìn của xã hội trong hoạt động xét xử sơ thẩm. Do đó, khác với thẩm phán, hội thẩm không phải là người xét xử chuyên nghiệp. “Tính chất xã hội” của hội thẩm cũng làm cho tiêu chuẩn và thủ tục để trở thành hội thẩm có những nét riêng biệt. Về mặt tiêu chuẩn, khác với thẩm phán thì tiêu chuẩn để trở thành hội thẩm không đề cao tính chuyên môn mà chỉ đề cao uy tín trong cộng đông dân cư bên cạnh các phẩm chất đạo đức khác. Về mặt chuyên môn thì hội thẩm chỉ cần có kiến thức pháp luật và có hiểu biết xã hội, không cần có bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn giống như thẩm phán. Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử giúp tăng cường mối quan hệ giữa tòa án và nhân dân. Góp phần nâng cao hiệu quả của công tác xét xử, thể hiện tính dân chủ. Phát huy khả năng làm việc tập thể trong công tác xét xử để đảm bảo xử đúng người đúng tội, tránh tình trạng oan sai. Đồng thời đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, đưa tiếng nói của người dân vào việc xét xử. Như vậy, nguyên tắc hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vừa phù hợp với quy định của pháp luật, vừa phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và đây cũng là một “kênh” giúp tuyên truyền pháp luật. Từ đó công tác xét xử được tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân, qua đây cũng góp phần xây dựng và sửa đổi những quy định của pháp luật chưa phù hợp. Trên thực tế trong hoạt động xét xử thì chủ yếu là hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm chưa phát huy được hết quyền năng được giao khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Đối với những vụ án không phức tạp, có không ít Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu hồ sơ ngay sát phiên tòa nên chỉ đủ thời gian nghiên cứu bản cáo trạng và một số lời khai mà không có thời gian nghiên cứu những tài liệu liên quan như: biên bản khám nghiệm hiện trường, các quy định về khởi tố vụ án, các biện pháp ngăn chặn...Như vậy dẫn đến việc Hội thẩm sẽ không xác định được những vấn đề cần phải chứng minh của vụ án. Khi tham gia xét hỏi, đương nhiên sự độc lập của Hội thẩm sẽ bị ảnh hưởng nhiều và do đó sẽ đưa ra các kết luận dựa trên ý chí của thẩm phán. Như vậy, để đảm bảo tính độc lập khi xét xử thì Hội thẩm không được có thái độ ỷ lại vào Thẩm phán mà cần phải tích cực, chủ động và có trách nhiệm cao trong hoạt động chứng minh tội phạm, vi phạm.

Độc lập còn thể hiện trong việc nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tức là ở đây được hiểu là Thẩm phán và hội thẩm phải trực tiếp xem xét các chứng cứ của vụ án chứ không phải chỉ căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hay các chứng cứ mà Viện Kiểm sát nhân dân đã đưa ra trong bản cáo trạng. Mà Hội đồng xét xử phải căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, đối chiếu với những quy định của pháp luật để xử lý vụ án và hoàn toàn có quyền đưa ra nhận định, kết luận khác với ý kiến của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn có tình trạng Thẩm phán và Hội thẩm quá lệ thuộc vào kết quả điều tra ban đầu là những tài liệu, thông tin, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. “Việc giải quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi ích hợp pháp để ra những bản án quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục. Tại phiên tòa, nhiệm vụ của Hội đồng xét xử phải kiểm tra, đánh giá các chứng cứ, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để xem xét kết luận trước đó xem có cơ sở hay không. Nhiều vụ án, Hội đồng xét xử tin vào kết quả điều tra có trong hồ sơ vụ án nên có thành kiến bị cáo có tội, từ đó vi phạm nguyên tắc “suy đoán vô tội” và đưa ra, đặt ra những câu hỏi mang tính áp đặt buộc bị cáo khai đúng với những lời khai trước đó. Từ đó, gây nên những vụ án oan sai, bỏ lọt tội phạm gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của những cá nhân, tổ chức có liên quan.

Trên thực tế, đặc biệt đối với những vụ việc, vụ án “nổi cộm” được dư luận quan tâm thì hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm còn chịu nhiều “sức ép” từ phía dư luận và các cơ quan báo chí. Độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử còn phải độc lập với cả dư luận và cơ quan báo chí. Đó chính là khi xét xử thì Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ dựa trên những chứng cứ, những quy định của pháp luật, không được phụ thuộc vào yêu cầu của dư luận và cơ quan báo chí. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc không được phép tác động đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.

Khi xét xử thì Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đây chính là việc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập nhưng không có nghĩa là tùy tiện mà phải căn cứ theo chính các quy định của pháp luật. “Chỉ tuân theo pháp luật” đó là một cụm từ chỉ phạm vi được hạn định cho Hội đồng xét xử. Nghĩa là việc xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm chỉ dựa trên những quy định của pháp luật và pháp luật được coi là căn cứ duy nhất để quyết định các vấn đề giải quyết vụ án ngoài pháp luật ra thì họ không được tuân theo một cái gì hoặc một ai khác. Họ không phải chịu bất kỳ một sự can thiệp nào từ bên ngoài. Tuân theo pháp luật là quyền của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Pháp luật treo cho họ quyền họ phải được sử dụng đầy đủ, thực hiện tốt quyền đó. Không ai, không tổ chức nào bằng cách này hay các khác được xâm phạm đến quyền của họ. Ở đây, chúng ta cần xác định pháp luật giữ vị trí tối thượng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân là phải tôn trọng quyền độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. “Chỉ tuân theo pháp luật” ở đây xác định vừa là quyền cũng vừa là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm. Là quyền vì nó đảm bảo cho sự độc lập xét xử của Hội đồng xét xử nhưng nó cũng là nghĩa vụ đặt ra yêu cầu và buộc Thẩm phán, Hội thẩm phải luôn trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như bản lĩnh nghề nghiệp, tránh những tác động tiêu cực xấu từ bên ngoài ảnh hưởng đến phán quyết của mình cũng như do kiến thức pháp luật còn hạn chế mà gây ra những hậu quả khó lường. Tuân theo pháp luật ở đây lưu ý là tuân theo cả luật nội dung và luật hình thức. Theo pháp luật hiện hành ta có thủ tục tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và tố tụng hình sự để giải quyết vụ việc, vụ án và khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm phải căn cứ vào quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Lao động, Luật Thương mại, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Doanh nghiệp... đồng thời dựa vào những quy định trong luật tố tụng để đưa ra các quyết định, bản án chính xác, đúng căn cứ pháp luật. Ví dụ khi giải quyết một vụ án hình sự, muốn áp dụng đúng các quy định của bộ luật hình sự buộc Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức về định tội, quyết định hình phạt. Kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước ngày mở phiên tòa thì ở giai đoạn này Hội thẩm phải xâm nhập hồ sơ để xem xét lại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ đó xây dựng kế hoạch xét hỏi và những tình huống xảy ra tại phiên tòa để có kế hoạch thích hợp giải quyết từng công việc cụ thể cho phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần phải nắm chắc các quy định của bộ luật tố tụng hình sự từ thủ tục bắt đầu tại phiên tòa đến khi kết thúc phiên tòa, trong đó quan trọng nhất chính là phần xét hỏi, tranh luận và nghị án. Hoạt động định tội danh là một hoạt động phức tập đòi hỏi những người cầm cân gảy mực phải có kiến thức tổng hợp về pháp luật chứ không chỉ đơn thuần là hiểu biết các quy định của pháp luật hình sự. Muốn định tội danh đều phải nắm rõ các quy định của văn bản chuyên ngành. Nếu không am hiểu nhất thiết cần phải trưng cầu ý kiến từ những chuyên gia về các lĩnh vực cụ thể. Ngoài ra, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cũng cần phải nắm chắc các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, các thông tư liên nganh để giải quyết chính xác từng trường hợp cụ thể. Khi giải quyết vụ án hình sự thì bên cạnh việc giải quyết vấn đề tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng thì Hội đồng xét xử còn cần phải giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự. Chủ yếu là giải quyết thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này thì đòi hỏi Hội đồng xét xử cần phải nắm rõ các quy định của pháp luật dân sự về căn cứ bồi thường, mức bồi thường, nguyên tắc bồi thường.

Thực tiễn trong hoạt động xét xử của Thẩm phán thì tính độc lập còn chịu sự tác động của cuộc họp án giữa các ngành, họp bàn án trong nội bộ tòa án, hoạt động thỉnh thị án cấp trên trước khi xét xử. Thực tiễn công việc này cũng đã phát huy được tính tích cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thủ tục tố tung đảm bảo chặt chẽ hơn, chứng cứ chứng minh cũng qua đó được củng cố. Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp diễn biến tại phiên tòa có những điểm khác nhưng do sự tác động vào cuộc họp trên mà Hội đồng xét xử sẽ cố gắng chứng minh theo kết luận ban đầu dẫn đến “án bỏ túi”. Bên cạnh đó, hoạt động thỉnh thị án cấp trên và họp bàn án cũng tồn tại hạn chế đó là lạm dụng hoạt động này kiến ý kiến của Tòa án cấp trên là bắt buộc. Từ đó tạo tâm lý ỷ lại, mất đi sự độc lập trong hoạt động xét xử của tòa án. Mặt khác, chúng ta có thể nhìn nhận về tổ chức theo ngành dọc của Tòa án nhân dân dẫn đến sự chỉ đạo của Chánh án, thẩm phán không thể không nghe. Nếu sự chỉ đạo đúng thì không phương hại đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức, Nhà nước nhưng nếu có trường hợp lạm dụng sự chỉ đạo để tác động trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm thì thực sự gây ra sự thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến nguyên tắc độc lập khi xét xử.

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên tắc hiến định. Từ đó tạo nền tảng để xây dựng và thực hiện những quy phạm pháp luật và nó còn có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc nâng cao chất lượng xét xử các vụ án, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và trong công cuộc cải cách tư pháp, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nền tảng của tư pháp trong nhà nước pháp quyền chứa đựng các giá trị được thừa nhân trong nhà nước pháp quyền đối với không chỉ trong hoạt động xét xử của Tòa án mà còn trong cả hoạt động điều tra, truy tố các vụ án hình sự. Tư pháp nước nhà có độc lập, xét xử có độc lập thì mới đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật. Từ đó mới có khả năng kiểm soát và giới hạn được quyền lực Nhà nước cũng như đảm bảo cho quyền con người, quyền công dân. Sư độc lập xét xử của Tòa án là một nhân tố quan trọng trong việc kiềm chế những hoạt động tùy tiện, lạm quyền từ phía các cơ quan Nhà nước, các cán bộ, công chức Nhà nước. Bởi lẽ, theo nguyên lý, quyền lực Nhà nước ta thuộc về Nhân dân, Nhân dân trao cho các cơ quan Nhà nước, các cán bộ, công chức Nhà nước thực hiện, thì rất dễ dẫn đến nguy cơ lạm quyền từ chính những cán bộ, công chức đó. Mặt khác, khi thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần đảm bảo và năng cao được chất lượng xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân. Từ đó khẳng định được vị trí, vai trò và trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử. Ở nước ta, Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để thực hiện chức năng xét xử. Đây chính là nơi mà người dân Việt Nam trong, ngoài nước đặt niềm tin vào công lý, nơi thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, phản ánh được tính dân chủ của một nhà nước pháp quyền. Thực hiện được nguyên tắc này đòi hỏi mỗi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh, chính xác, triệt để, thường xuyên, chí công, vô tư, không để tình cảm cá nhân, mối quan hệ cá nhân, quyền lợi cá nhân ảnh hưởng đến việc xét xử. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có lòng trung thực, dám chịu trách nhiệm, đồng thời kiên định trong mối quan hệ với cấp trên để chống lại khuynh hướng phủ nhận tính độc lập trong hoạt động tư pháp, lợi dụng nguyên tắc Đảng lãnh đạo để có tác động hoặc gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động xét xử của Tòa án. Từ đó, khi thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần vào việc bảo vệ pháp XHCN thành công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, giúp ổn định trật tự xã hội. Có thể khẳng định, mục đích của việc thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và kiểm soát quyền lực Nhà nước. Như vậy, để đạt được mục đích đó thì hoạt động xét xử của Tòa án phải được tiến hành một cách công bằng và nghiêm minh theo đúng những nguyên tắc tố tụng đã đề ra trong đó có nguyên tắc độc lập khi xét xử và chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên tắc này xứng đáng chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án.

 

Bùi Thị Bích Ngọc

Khoa Nhà nước và pháp luật